|
- |
Cô dâu trước khi về nhà chồng phải có những thủ
tục, động tác ǵ ?
Khi
nhà trai bắt đầu đến đón dâu th́ cô dâu cùng với chú
rể đến trước bàn thờ gia tiên, khấu đầu làm lễ, tự
khấn niệm xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ nên
chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp, cầm sắt
giao hoà. Cũng có thể nhờ gia trưởng khấn hộ cho có bài
bản hẳn hoi. Lễ xong, hai người đưa hộp trầu, bao thuốc,
đi mời chào thân nhân, khách, bạn khắp một lượt, người
nhà sau, những đám cưới có tổ chức thường đă có sự
sắp xếp vị trí sẵn. Trong khi chào mời, cô dâu phải giới
thiệu cho chàng rể biết mối quan hệ để biết cách xưng hô. Sau
cùng, trước khi bước ra cửa để về nhà chồng là lễ tạ
cha mẹ: Cha mẹ ngồi sẵn một phía ở cửa chính, nếu ông bà
nội ngoại c̣n thượng tại có đến dự th́ ông bà cũng
ngồi chung một phía, nhưng ở ghế cao hơn. Thời xưa cả đôi
tân hôn phải lạy hai lạy, ngày nay châm chước, cúi đầu
cung kính "Xin phép ông bà, cha mẹ con về nhà chồng",
"Xin phép ông bà, cha mẹ con xin đón em X về". Lúc đó,
cha mẹ ban phát cho con gái, con rể một vật ǵ đó làm kỉ
niệm, có thể là nột cái bút, một gơng soi nho nhỏ, một
cuốn sách hoặc một chiếc khăn, chiếc quạt.... Nhà giầu c̣n
cho thêm hoa tai, nhẫn cưới hoặc quan tiền... (Chú ư, những
thứ này nhà trai đă đưa đến hôm lễ nạp tài. Trong gói quà
của bà mẹ cho con gái có cái châm cài tóc, hoặc bảy chiếc
kim đính tóc hoặc kim khâu gói trong khăn vuông). Đối
với ông bà cũng có những động tác tương tự. Lễ vấn danh có ư nghĩa ǵ?
"Lễ
vấn danh" là lễ nhà trai đến nhà gái để hỏi tên
tuổi cô gái, ngày nay gọi là lễ "Chạm ngơ" hay là
lễ "Dạm" (có nơi kiêm cả lễ dạm và hỏi cùng
một lúc gọi là lễ dạm hỏi). Truyện Kiều có câu
"Tiện đưa canh thiếp trước cầm làm ghi". "Canh
thiếp" là giấy ghi họ tên, tuổi, quê quán, con ai. Trước
Cách mạng Tháng Tám 1945, ở nhiều vùng nông thôn, con gái
từ khi sinh đến khi lấy chồng vẫn chưa đặt tên, nếu như
gia đ́nh không cho con gái đi học. Con gái không cần vào sổ
họ, sổ làng, không đi học nên cũng không cần dặt tên
vội. ở trong nhà con gái mới sinh ra được gọi là con Hĩm,
con Mực, con Chắt em...Trong nhà gọi tên ǵ th́ xóm giềng
gọi theo tên đó. Đến làm lễ vấn danh, ông bác hoặc bố
mới đặt cho cái tên để ghi trong giấy hôn thú, có khi chính
người mang tên cũng không biết ḿnh mang tên ǵ trong giấy hôn
thú, v́ khi về nhà chồng lại gọi theo tên chồng, khi có con
gọi theo tên con, có cháu đích tôn gọi theo tên cháu. Lễ
vấn danh không phải để hỏi tên mà chủ yếu là hỏi
tuổi, để hai họ quyết định đôi nam nữ hợp tuổi nhau th́
lấy được nhau, tuổi xung khắc th́ thôi. Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống có đúng không?
Có cần thiết không?
Đối
với các cụ th́ câu hỏi này thừa, v́ "Ṇi nào giống
ấy","Cây nào quả ấy","Giỏ nhà ai quai nhà
ấy","Con nhà công chẳng giống lông cũng giống cánh",
"T́m nơi có đức gửi thân", ai chẳng muốn có trai
hiền gái đảm, rể thảo dâu hiền. Thời nay, một số bạn
trẻ coi thường cho là phong kiến lạc hậu. Có những đôi
trai gái mới chỉ gặp nhau trên một đoạn đờng, đă vội
đính ước, tính chuyện vuông tṛn, thậm chí họ đă biết rơ
cả "Ngọn nguồn lạch sông"!!!Đành rằng cũng có trường
hợp "Một ngày nên nghĩa, chuyến đ̣ nên duyên", song
thành công là cá biệt, thất bại là phổ biến. "T́m
tông, t́m họ" không có nghĩa là t́m chốn sang giàu, khinh
người nghèo khó, mà chủ yếu là t́m nơi có gia giáo, có đức
độ. Lễ xin dâu có những ư nghĩa ǵ? Và thủ tục tiến hành.
Lễ
này rất đơn giản: Trước giờ đón dâu, nhà trai cử một
hai người, thường là bà bác, bà cô, bà chị của chú rể
đưa một cơi trầu, một be rượu đến xin dâu, báo trước
giờ đoàn đón dâu sẽ đến, để nhà gái sẵn sàng đón
tiếp. Phong
tục này có nhiều ư nghĩa hay: Mặc
dù hai gia đ́nh đă quy ước với nhau từ trước về ngày
giờ và thành phần đưa đón rồi, nhưng để đề pḥng mọi
sự bất trắc, mọi tin thất thiệt, nên mới định ra lễ này,
biểu hiện sự cẩn trọng trong hôn lễ. Thời
gian này chú rể và cha mẹ chú rể rất bận rộn không thể
sang nhà gái, nên nhờ người đại diện sang báo trước như
bộ phận "Tiền trạm". Để
trong trường hợp vạn nhất hoặc do thời tiết, hoặc do
trở ngại giao thông, gần qua giờ quy ước mà đoàn đón dâu
chưa đến, nhà gái biết để chủ động làm lễ gia tiên
hoặc phái người sang nhà trai thăm ḍ. Trường
hợp hai gia đ́nh cách nhau quá xa hoặc quá gần, hai gia đ́nh
có thể thoả thuận với
nhau miễn là bớt lễ này, hoặc nhập lễ xin dâu và đón dâu
làm một. Cách
nhập lễ xin dâu và đón dâu tiến hành như sau: Khi
đoàn đón dâu đến ngơ nhà gái, đoàn c̣n chỉnh đốn tư
trang, sắp xếp lại ai đi trước, ai đi sau, trong khi đó một
cụ già đi đầu họ cùng với một người đội lễ (một mâm
quả trong đựng trầu cau, rượu... )vào trước,đặt lên bàn
thờ, thắp hương vái rồi trở ra dẫn toàn đoàn vào làm
lễ chính thức đón dâu. Lễ này phải tiến hành rất nhanh.
Thông thờng nhà gái vái chào xong, chủ động xin miễn lễ
rồi một vị huynh trưởng cùng ra luôn để đón đoàn nhà
trai vào. Lễ lại mặt có ư nghĩa ǵ?
Lễ
thành hôn, tơ hồng, hợp cẩn xong xuôi, hai vợ chồng tân hôn
trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên ông bà
cha mẹ, đi chào họ hàng thân nhân bên nhà gái sau đó đón
bố mẹ và vài thân nhân sang nhà chú rể. Kể từ buổi đó,
mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể và nhà thông
gia, v́ trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi
đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai
hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ)
tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định
ngày. Thành phần chủ khách rất hẹp, chỉ gói gọn trong
phạm vi gia đ́nh. Phỏng
theo tục cổ Trung Quốc: nếu trong lễ lại mặt, có cái thủ
lợn cắt lỗ tai tức là ngầm báo với nhà gái rằng nhà
trai trả lại, v́ con gái ông bà đă mất trinh (Đêm tân hôn
có lót giấy bản, gọi là giấy thám trinh, để xem người
con gái c̣n trinh tiết hay không. Nếu c̣n trinh th́ trên giấy
bản sẽ có mấy giọt máu. Mă Giám Sinh sau khi cưỡng ép phá
trinh nàng Kiều xong dùng "Nước vỏ Lựu", "Máu mào
gà" ḥng lường gạt làng chơi tưởng nhầm là Kiều
vẫn c̣n trinh). Trường
hợp hai nhà xa xôi cách trở, ông già bà lăo th́ nên miễn
cho nhau, cô dâu chú rể nếu bận ông tác cũng nên được
miễn thứ. Nếu điều kiện cho phép th́ nên duy tŕ, v́ lễ
này mang nhiều ư nghĩa tốt đẹp: -Nhắc
nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ cũng
như bố mẹ ḿnh. -Thắt
chặt và mở rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ
buổi đầu, t́nh cảm được nhân đôi. -
Hai gia đ́nh cùng trao đổi rút kinh nghiệm về việc tổ
chức hôn lễ và bàn bạc về trách nhiệm của hai bên bố
mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi trẻ trong tương
lai. Sự tích tơ hồng
"Tơ
hồng Nguyệt lăo thiên tiên" dựa theo tích Vi Cố gặp ông
lăo trong một đêm trăng, ngồi kiểm sách hớng về phía
mặt trăng, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. Ông lăo
bảo cho biết đây là những văn thư kết hôn của toàn thiên
hạ. C̣n những dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái
sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp
một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua. Bỗng ông già
lại hiện lên cho biết đứa bé kia sẽ là vợ anh. Vi Cố
giận, bảo đày tớ t́m giết đứa bé ấy đi. Người đầy
tớ lẻn đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Mười
bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con
gái cho Vi Cố. Người con gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông
mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố gạn hỏi, vợ mới
bảo: Thuở c̣n bé, một bà vú họ Trần bế vào chợ bị
một tên cuồng tặc đâm phải. Vi Cố hỏi: Có phải bà vú
đó chột mắt không? người vợ bảo: Đúng thế! Vi Cố kể
lại chuyện trước, hai vợ chồng càng quư trọng nhau cho là
duyên trời định sẵn. Mối lái là ǵ?
Trong
xă hội phong kiến xưa "Nam nữ thụ thụ bất thân" nên
hôn nhân cần phải người môi giới. nếu yêu nhau, cưới
hỏi không cần mối lái sẽ bị chê trách là "Phải ḷng
nhau" "Mắc phải bùa yêu". Nguyễn Du đă vạch đường
cho Kim Trọng. Thuư Kiều cứ yêu nhau rồi sẽ "Liệu bài
mối manh" nên các cụ nhà nho mới kịch liệt phản đối
khuyên con cháu rằng: "Đàn ông th́ chớ
Phan Trần, Chu
Mạnh Trinh vịnh Kiều c̣n nói: "Chỉ v́ một tội mối
manh chưa có, thề thốt đă nhiều; trăng gió mắc vào, phồn
hoa dính măi"...Nếu không có "Nhà băng đưa mối"
th́ nhà trai làm sao biết được người thục nữ trong cửa các
pḥng khuê. Trong
xă hội cũ, có những người chuyên làm nghề mối lái, nếu
đẹp đôi vừa lứa th́ bà mối sẽ trở thành ân nhân suốt
đời. lễ tơ hồng xong, tạ bà mối một nửa mâm xôi, nửa
con gà kèm theo chiếc áo lụa. Chẵn tháng con đầu ḷng thế
nào cũng cố mời bà mối đến dự, để tỏ nghĩa tri ân. Nhưng
cũng có nhiều tai hoạ do những bà mối có động cơ bất chính
gây nên, để đôi trẻ suốt đời mang mối hận v́ phận
hẩm duyên hiu: ..."Hoặc
là bởi "Mẹ thầy lộn quưt", quên những thói mơ tôm
mảng cá, qua lại ít nhiều ngọt miệng, ép uổng duyên cô nông
nỗi thế, nặng tiền tài mà nhẹ gánh t́nh chung. Hay v́ chưng
"Mối lái đèo ḅng", chẳng nhằm khi vào lộng ra khơi,
nói phô mật ngọt rót vào tai, dỗ dành phận gái ngẩn ngơ t́nh,
già nhân sự để non quyền tạo hoá"... (Trích
"Văn tế sống ngời con gái" - Một bài văn tế
khuyết danh được truyền tụng ở Hà Tĩnh vào đầu TKXX). ở
xă hội mới cũng cần có bà mối, bà mối thời nay là ngời
cố vấn, ngời đỡ đầu cho đôi trẻ xây dựng hạnh phúc
lâu dài. trong tương lai, có lẽ vai tṛ của bà mối là
những phương tiện thông tin đại chúng (như quảng cáo trên
Đài truyền thanh truyền h́nh, báo chí, chụp ảnh) và những
công ty du lịch, câu lạc bộ những người độc thân... Mẹ chồng làm ǵ khi con dâu bắt đầu về nhà?
Phong
tục ở mỗi địa phương một khác, trái ngược nhau nhưng đều
có ư nghĩa hay: Ngày
xưa ở nhiều địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh có lệ tục mẹ
chồng ra cất nón cho con dâu: Nhà
trai đặt sẵn trước ngơ một cái nồi đồng, một cái gáo,
trong nồi đặt sẵn một quan tiền đồng và đựng đầy nước
trong. Cô dâu vào đến cổng dùng gáo múc nước rửa mặt mũi,
chân tay, mẹ chồng bước ra cất nón cho con dâu. Con dâu,
một tay cầm lấy quan tiền, một tay vẫn cầm quạt che mặt.
Mẹ chồng dắt con dâu vào nhà đặt quan tiền và cái quạt lên
bàn thờ, cúi đầu lễ gia tiên (bốn lạy ba vái theo tư thế
của nữ). Sau đó mẹ chồng dắt cô dâu cầm cả tiền và
quạt vào buồng. Trong buồng đă chuẩn bị sẵn trầu nước
hoa quả, giường chiếu mới. Đôi chiếu trải úp vào nhau, do
một người thân trong họ có tuổi tác, vợ chồng song toàn,
con cháu đông, làm ăn nên nổi, đợc gia đ́nh mời đến
trải chiếu; nếu mẹ chồng có đủ tiêu chuẩn trên th́ mẹ
chồng trực tiếp dọn giường trải chiếu, nhng bố chồng
th́ không được. Khi con dâu nghỉ ngơi xong, khăn yếm chỉnh
tề mới bưng hộp trầu ra chào họ. Trường hợp mẹ chồng
đă mất th́ một bà cô hay bà d́ thay thế. Phong
tục này có nhiều ư nghĩa: Tại sao phải có phù dâu
Tục
lệ xưa cần có phù dâu v́ hôn ngân cưỡng ép, do cha mẹ định
đoạt, nhiều nơi lại có nạn tảo hôn, thông thường th́
"Nữ thập tam nam thập lục", con giá mười ba tuổi
về nhà chồng đă biết ǵ đâu! do đó cô dâu phải có người
dẫn dắt. Người dắt cô dâu gọi là phù dâu. Ngày
xưa phù dâu phải là người cô, người d́ hay chị em thân
thiết của cô dâu, có khả năng thuyết phục, bày vẽ cho cô
dâu, được cô dâu kính nể, mến phục, được bố mẹ cô dâu
ủy thác. Người phù dâu phải là người may mắn, tốt phúc,
duyên ưa, phận đẹp, con gái lành mạnh ngoan ngoăn, gia đ́nh
êm ấm, đề huề có thể truyền kinh nghiệm làm dâu, làm
mẹ, làm vợ cho em, cho cháu ḿnh. Phù dâu nhiều khi c̣n phải
ở lại năm bảy ngày sau để cho cô dâu đỡ buồn và để
chỉ bảo kinh nghiệm. Thông thường phù dâu cũng trở lại
với dâu rể trong lễ lại mặt. Đám
cưới ngày xưa phải có phù đâu, không định lệ, và cũng
không có danh từ "Phù rể". Đám cưới ngày nay,
nhiều nơi có cả phù dâu, phù rể, có đám mời đến năm sáu
đôi phù đâu phù rể toàn là trai thanh, gái lịch, chưa vợ
chưa chồng. Có lẽ chủ yếu để cô dâu thêm bạn, chú rể
thêm bầu. Hay phải chăng ngày nay chàng rể bẽn lẽn e thẹn
hơn xưa, nên phải có người dẫn dắt. Hay đám cưới trước
thường sinh ra nhiều đám cưới sau nên phải chăm lo đào
tạo những cô dâu, chú rể tương lai. Bánh su sê hay bánh phu thê?
Trong
lễ cưới có nhiều lễ vật, nhưng không thể thiếu bánh
"Su sê", nguyên xưa là bánh "Phu thê", một
số địa phương nói chệch thành bánh "Su sê". Bánh
su sê làm bằng bột đường trắng, dừa, đậu xanh và các
thứ hương ngũ vị, nặn h́nh tṛn, bọc bằng hai khuôn h́nh
vuông úp lại với nhau vừa khít, khuôn làm bằng lá dừa, lá
cau hoặc lá dứa, vỏ để nguyên không luộc để giữ màu
xanh thắm. Sở
dĩ gọi là bánh phu thê (chồng vợ) v́ đó là biểu tượng
của đôi vợ chồng phận đẹp duyên a: vuông tṛn, trong
trắng mềm dẻo, ngọt ngào, thơm tho, xanh thắm, đồng thời
cũng là biểu tượng của đất trời (trời tṛn, đất vuông)
có âm dương ngũ hành: Ruột trắng, nhân vàng, hai vỏ xanh úp
lại buộc bằng sợi dây hồng. Những cách gỡ bí cho bạn trẻ khi lo đám cưới
Đáng
lẽ mừng đám cưới như tục lệ trói buộc thành ra lo đám
cưới. Tục cũ đă truyền nhiễm lâu không dễ một mai đổi
ngay được. Vậy phải làm thế nào? Để
giúp các gia đ́nh cưới dâu, một số gia vùng nông thôn có
tục góp lễ cưới: đầu năm gia đ́nh báo cho họ hàng xóm
giềng biết dự định cưới dâu vào tháng nào, thông thường
vào sau vụ thu hoạch. Lần lượt các gia đ́nh đóng góp các
khoản gạo nếp, gạo tẻ, đậu xanh, rượu hoặc tiền theo
định lượng. C̣n lợn gà th́ gia đ́nh nào tự liệu cho gia
đ́nh ấy. Tục góp cưới cũng giống như hội tương tế tương
trợ, hội cày cấy, hội lợp nhà... luân phiên các gia
đ́nh. Đây là một tục hay, cùng nhau lo dần đến lượt ḿnh
đỡ phải lo những khoản lớn. Tiền, quà cưới của khách,
bạn đưa tới thực chất cũng là h́nh thức góp lễ cưới,
nhưng không chủ động được kế hoạch, thứ có không cần,
thứ cần không có, thành ra tốn kém. Lệ chơi họ ngày nay,
chung vốn để kinh doanh buôn bán cũng là xuất phát từ h́nh
thức góp tiền nhau để làm nhà cưới vợ, tậu trâu ḅ ở
nông thôn. V́ xuất phát từ họ hàng giúp nhau nên mới gọi
là chơi họ. Nếu Đoàn Thanh niên địa phương nào vững
mạnh, cán bộ đoàn công tâm liêm khiết tháo vát, tổ chức
"Hội chơi họ cưới vợ" có kế hoạch quản lư kinh
doanh sử dụng phân phối chặt chẽ, ắt được nhiều bạn
thanh niên hưởng ứng, tham gia...Bước đầu cũng đă có một
số địa phương tổ chức "Dịch vụ đám cưới" như
mua sắm cho thuê quần áo cưới, bát đĩa, ấm chén bàn ghế,
phông màn, tổ chức trang trí, chụp ảnh, ca nhạc...vừa kinh
doanh gây quỹ, vừa phục vụ thuận tiện, có chế độ ưu đăi
với người góp cổ phần, với Đoàn viên. Tiền nạp theo (hay treo) là ǵ?
Tiền
"cheo" là khoản tiền nhà trai nạp cho làng xă bên nhà
gái. Trai gái cùng làng xă lấy nhau cũng phải nạp cheo song có
giảm bớt. Xuất xứ của lệ "Nạp cheo" là tục
"Lan nhai" tức là tục chăng dây ở dọc đường
hoặc ở cổng làng. Đầu tiên th́ người ta tổ chức đón
mừng hôn lễ, người ta chúc tụng, có nơi c̣n đốt pháo
mừng. Để đáp lễ, đoàn đưa dâu cũng đưa trầu cau ra
mời, đưa quà, đưa tiền biếu tặng. Dần đần có những người
làm ăn bất chính, lợi dụng cơ hội cũng chăng dây, ṿi
tiền, sách nhiễu, trở thành tục lệ xấu. V́ thói xấu lan
dần, gây nhiều cản trở, triều đ́nh phải ra lệnh băi
bỏ. Thay thế vào đó, cho phép làng xă được thu tiền cheo.
Khi đă nạp cheo cho làng, tức là đám cưới được làng công
nhận có giấy biên nhận hẳn hoi. Ngày xưa, chưa có thủ
tục đăng kư kết hôn, th́ tờ nạp cheo coi như tờ hôn thú.
Nạp cheo so với chăng dây là tiến bộ. Khoản tiền cheo này
nhiều địa phương dùng vào việc công ích như đào giếng,
đắp đường, lát gạch, xây cổng làng... Nhưng nhiều nơi
chỉ cung đốn cho lư hương chè chén. Đă hơn nửa thế kỷ,
lệ này bị băi bỏ rồi. Thanh niên ngày nay chỉ c̣n thấy bóng
dáng của tiền cheo qua ca dao tục ngữ. -
Nuôi lợn th́ phải vớt bèo -
Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối. -
Ông xă đánh trống th́nh th́nh -
Lấy chồng anh sẽ giúp cho Thật
quá cường điệu, Chứ tiền cheo không thể vượt quá tiền
cưới. |