Đồ Nam Tử: Người khởi xướng nghi thức "kết hôn trước cửa Phật"
(Trên tạp chí Đuốc Tuê năm 1935-1936)
Nhân dịp Xuân Ất Dậu 2005, trên tuần báo xuân Giác Ngô, tôi có viết bài "Hằng thuận: nét đẹp trong đời sống lứa đôi".
Trong bài viết này, tôi đă thử truy t́m nguồn gốc nghi thức lễ hộ niệm hôn lễ (lễ thành hôn trong cửa Phật). Do hạn chế về mặt tư liệu, và mặc dù đă phỏng vấn những nhân vật gắn liền với Phong trào Chấn hưng Phật giáo như quư cư sĩ Vơ Đ́nh Cường, Tống Hồ Cầm cùng hai người con trai và con rể của bác sĩ Tâm Minh Lê Đ́nh Thám - cụ Lê Đ́nh Lực và Hoàng Văn Tầm - tôi vẫn không thể biết được đích xác ai là người khởi xướng cho nghi thức này.
Thật may mắn, ngay sau khi báo phát hành, tôi đă nhận được bức thư phản hồi của một độc giả tại TP.HCM. Trong thư, ông cho biết vào năm 1935, tạp chí Đuốc Tuê đă cho đăng bài "Lễ kết hôn trước cửa Phật", tác giả Đồ Nam Tử. Tiếc là ông chỉ biết thông tin này qua tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang chứ chưa hề được đọc nguyên văn bài báo.Cũng cần nói thêm rằng, vào tháng 3-1940, bác sĩ Lê Đ́nh Thám đă tổ chức lễ cưới cho con gái đầu ḷng - bà Lê Thị Hoành với ông Hoàng Văn Tầm - tại chùa Từ Đàm, Huế. Có thể xem đây là lễ cưới đầu tiên được tổ chức tại chùa dưới sự chứng minh của chư Tăng, hưởng ứng theo lời đề nghị của Đồ Nam Tử. Đến năm 1971, trong quyển Nghi thức lễ thành hôn, HT. Thích Thiện Ḥa đă dùng hai chữ "hằng thuận" để gọi tên cho “lễ thành hôn trước cửa Phật”.
Lần này, thông qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đại Đồng, tôi đă may mắn có dịp tiếp cận được bài báo nói trên của Đồ Nam Tử(1). Từ đó, một mặt, tôi muốn bổ sung cho sự thiếu sót về tư liệu trong bài viết trước đây của ḿnh, mặt khác, xin giới thiệu đến quư độc giả đôi nét về Đồ Nam Tử và lời đề nghị “kết hôn trước cửa Phật” của ông - một đề nghị được xem là khá cách tân vào thời bấy giờ.
***
Đồ Nam Tử tên thật là Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940), người làng Mẫn Nhuế, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông vốn xuất thân Nho học, sau chuyển sang học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp, trở thành nhà giáo. Nguyễn Trọng Thuật từng tham gia Việt Nam Quốc dân đảng thời Nguyễn Thái Học (1901-1930). Sau khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông chuyển sang nghề viết lách và trở thành cây bút sáng giá của tạp chí Nam Phong và Đuốc Tuê.
Nguyễn Trọng Thuật là một cây bút xông xáo, có những trước tác về nhiều lĩnh vực như: lịch sử, văn học, giáo dục, tôn giáo… Riêng trong lĩnh vực văn học, với tác phẩm Quả dưa đỏ, tiểu thuyết hóa chuyện An Tiêm trong Lĩnh Nam chích quái, được giải thưởng văn chương của Hội Khai Trí Tiến Đức năm 1925, ông được xem là một trong những nhà văn tiên phong viết tiểu thuyết bằng Quốc ngữ ở miền Bắc(2).Từ những năm 1932-1933, trên tạp chí Nam Phong, Nguyễn Trọng Thuật đă có những bài viết về Phật giáo đáng chú ư như: "B́nh luận về sách Khóa hư" (1933), "Phật giáo tân luận" (1934), được xem là bước khởi đầu cho những loạt bài nghiên cứu tiếp theo về Phật học và cổ vũ cho Phong trào Chấn hưng Phật giáo.
"Lễ kết hôn trước cửa Phật" là một trong những lời kêu gọi cải cách Phật giáo của ông, khởi đăng trên tạp chí Đuốc Tuệ các số 4 (31-12-1935) và 5 (7-1-1936). Đuốc Tuê là tạp chí của Hội Bắc Kỳ Phật giáo, ra đời vào tháng Chạp năm 1935, do ông Nguyễn Năng Quốc làm chủ nhiệm, Thiền sư Trung Thứ, trụ tŕ chùa Bằng Sở làm chủ bút, đặt tại chùa Quán Sứ, đường Richard, Hà Nội.
Ngay từ những số đầu, tạp chí này đă đăng tải nhiều bài viết có tính cách bênh vực cho Phong trào Chấn hưng Phật giáo. Bài viết nêu trên của Đồ Nam Tử là một cách cụ thể hóa chủ trương nhân gian hóa Phật giáo. Theo tác giả Nguyễn Lang th́ lời đề nghị, rằng con nhà Phật từ nay trở đi nên làm lễ kết hôn trước cửa Phật, là “một truyền thống từ trước đến nay chưa có ở Việt Nam”(3).
Mở đầu bài báo, Đồ Nam Tử nhận định về lễ hôn là “lễ văn để làm tôn trọng vẻ vang cho cái sống của ḿnh”. Ông cho rằng ở Việt Nam, lễ hôn chịu ảnh hưởng cả Nho giáo lẫn Đạo giáo. Theo đó, lễ bái yết gia tiên (Nho giáo) th́ nên giữ, c̣n lễ tế tơ hồng (theo thuyết số mệnh của phái đạo sĩ) th́ “không có nghĩa lư ǵ đáng làm giáo hóa”. Ông c̣n nhấn mạnh: “Song ngoài cái lễ bái yết gia tiên ra không có lễ ǵ nữa, th́ cái quan niệm kết hôn của người đời chỉ loanh quanh trong cái tư tưởng nối dơi tông đường của một nhà, e không khỏi c̣n hẹp ḥi lắm”.
Ông đề nghị: “Nay nhân phong trào Phật giáo đang hưng thịnh, tiện dịp ta hăy nên cử hành lễ kết hôn trước cửa Phật (…). Việc đem lễ kết hôn vào cửa Phật này tuy là việc mới, nhưng tôi quyết không phải là một việc cưỡng ép ǵ”. Theo ông th́ nếu muốn tuyên dương đạo Phật, không phải đợi đến khi người ta “lỗi đạo” rồi mới giáo hóa, v́ như vậy th́ đă quá muộn, mà phải “nhân cái dịp đôi lứa thiếu niên mới hợp ước cùng nhau lo làm những nghĩa vụ đó, đối trước cửa Phật, mà dạy sớm đi cho họ”.
Đồ Nam Tử đề nghị một nghi thức, theo đó, “sau khi dâu đă về làm lễ bái yết gia tiên nhà chồng rồi th́ ra chùa làm lễ kết hôn (…). Khi mới vào trước điện Phật, trước tiên đạo tràng vào ngồi hai bên tả hữu nơi ṭa ngồi của giới sư. C̣n giới sư và tín chủ đều theo thứ tự đứng ngồi đối diện thị lập hai bên trước điện Phật. Đạo tràng cử nhạc và thỉnh chuông rồi lần lượt xướng: ‘Giới sư tựu vị’, ‘tân lang tân phụ các tựu vị’, ‘lưỡng gia phụ mẫu cùng mỗi nhân các tựu vị’, ‘tân khách thân thuộc hộ niệm giả các tựu vị’”.
Nghi thức này được ông mô tả khá chi tiết, bao gồm cách thức và tấu văn. Trong bài tấu văn ông đưa ra, lời lẽ khúc chiết, thấm đượm tinh thần giáo lư Phật giáo, chứng tỏ ông đă bỏ ra rất nhiều tâm huyết:
“Phục dĩ:
Ba ngh́n trong thế giới, chúng sinh sinh dục, c̣n dai dẳng với thời gian
Một nguyện đại từ bi, chư Phật độ tŕ, cũng miên man cho tận kiếp
(…)
Vậy biết:
Tuy phép Phật là phép rộng, từng bao la khắp cơi hư không;
Mà đạo Phật là đạo trung, vốn thực hành ngay ở đời hiện thế;
Đệ tử chúng tôi, chủ hôn bên nhà trai (…) và chủ hôn bên nhà gái (…), nay hai con chúng tôi nhờ có duyên lành, kết nên đôi bạn.
Đẹp duyên cầm sắt, được ngày lành, chúng tôi đă cho làm lễ vu quy.
Tỏ dạ keo sơn, trước cửa Phật, đôi bạn trẻ lại tuyên lời phát thệ.
(…)
Sau lời tấu của hai bên cha mẹ, đến lượt đôi bạn trẻ phát thệ: “trước cửa Phật, xin yêu nhau kính nhau, ăn ở cùng nhau cho trọn một đời”.
Tiếp theo, giới sư dạy đôi bạn rằng: “nay đă đối trước cửa Phật phát thệ cùng nhau làm vợ chồng, th́ phải tuân lời Phật dạy mà ăn ở cùng nhau cho trọn đạo ở đời. Muốn thế, trước phải xin quy y Phật cho được làm đệ tử Phật”.
Lễ tất, mọi người cùng nhau lễ Phật, lui ra.
***
Ngày nay, “đám cưới trước cửa Phật”, hay c̣n gọi là lễ “hằng thuận quy y”, vốn không c̣n quá xa lạ đối với người Phật tử, thiết tưởng chúng ta cũng cần nên biết đôi nét về nguồn gốc của nghi thức này vậy, bởi đây là một nét đẹp trong văn hóa Phật giáo nói riêng và xă hội nói chung. Nhiều đôi trẻ đă ư thức đến việc lên chùa cung thỉnh chư Tăng hộ niệm cho hôn lễ của ḿnh. Trong khói trầm ngào ngạt, trong lời kinh nhiệm mầu, trong sắc y vàng rực rỡ và lời khuyến nhủ của chư Tăng, hôn lễ diễn ra với tất cả sự trang nghiêm, thành kính - sẽ chắp cánh cho đời sống hôn nhân bay bổng giữa đôi bờ thiêng liêng và trần tục.Quảng Kiến
(1) Xin xem Nguyễn Đại Đồng - Nguyễn Thị Minh: Phong trào Chấn hưng Phật giáo - Tư liệu báo chí Việt Nam từ 1927-1938, NXB Tôn Giáo, 2008. (2) Theo Từ điển Văn học, bộ mới, NXB Thế Giới, 2004. (3) Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Văn Học, Hà Nội, 2000, tr.876