(Nghĩa là giáo lư đức Phật
Thích Ca hoá độ chúng sanh để thoát khỏi ba đường khổ: địa ngục, ngạ quỷ
và súc sanh, và có khả năng cứu thoát cửu huyền và thất tổ được siêu
thăng).
Có
lẽ v́ câu trên quá cô đọng nên bản Việt ngữ của Tiến sĩ Lê Mạnh Thát
(trang 392), vẫn giữ nguyên như vậy, và phần dưới có chú thích ngắn gọn
về bốn chữ "cửu huyền thất tổ" như sau:
Cửu
huyền : Chín đời: Cao, tằng, tổ, cha, ḿnh, con, cháu, chắt, chít.
Thất
tổ : Bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ.
Mặc
dầu trong các từ điển, chúng tôi không thấy có chữ "huyền" nào có nghĩa
là "đời" cả, nhưng qua quá tŕnh Việt Hoá, chữ nầy được hiểu như là
"đời", và có lẽ nên dịch là "thế hệ" th́ chính xác
hơn.
Chín
thế hệ trên, nếu phiên âm bằng chữ Hán th́ được viết như sau :
Cao - Tằng
- Tổ - Khảo - Kỷ - Tử - Tôn - Tằng - Huyền
Như vậy, nếu lấy thế hệ ḿnh
làm chính th́ tính ngược lên bốn đời và tính xuống bốn đời thành ra chín
đời.
Một
vị Hoà Thượng mà người viết có duyên học hỏi đă giải thích rằng, sở dĩ
gọi chữ "Huyền" ở đây v́ chữ "Huyền" trong "cửu huyền" này vốn có nghĩa
là "đen", vô lượng kiếp chúng sanh luân hồi sống chết, khi thân xác này
ră rời, phân ly, trả về cho tứ đại, những chất tinh tuỷ xương máu và
thịt tan ră, huỷ hoại đều biến thành màu đen nên gọi là "huyền". Bởi
chín thế hệ vần xoay, sống chết như vậy nên gọi là "cửu huyền".
Thất
Tổ có nghĩa là bảy ông tổ.
Tổ là ông nội của đời ḿnh; đi ngược lên sáu đời nữa gọi là thất
tổ.
Như
vậy, chữ "cửu huyền" bao quát hơn chữ "thất tổ". V́ "thất tổ" chỉ cho
các thế hệ đi trước, c̣n "cửu huyền" không những chỉ cho bốn thế hệ
trước mà c̣n nhắc đến bốn thế hệ sau nữa. Chính v́ vậy, nơi thờ phụng
những vị quá văng c̣n được gọi là "Nhà Thờ Cửu Huyền" (viết bằng tiếng
Việt), thỉnh thoảng dùng bốn chữ "Cửu Huyền Thất Tổ" (viết bằng chữ
Hán). Quư Tăng Ni miền Nam và miền Bắc cũng dùng cụm từ này để chỉ cho
nơi thờ ông bà, cha mẹ ḿnh nhiều đời, nhưng không phổ biến rộng răi,
các vị thường dùng từ "hương linh" chỉ người đă khuất, và nơi thờ các
hương linh ấy được gọi là "bàn linh". Các tịnh xá thuộc hệ phái Khất Sĩ
dùng từ "Cửu Huyền" hoặc cả "Cửu Huyền Thất Tổ" chỉ cho nơi thờ những
người đă quá văng.
Theo
cách nh́n tổng quát, văn hóa có hai phần đặc trưng, đó là văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần. Nền văn hóa vật chất bao gồm các lĩnh vực
thuộc khoa học kỹ thuật. Văn hóa tinh thần bao gồm các lĩnh vực thuộc
học thuật, tư tưởng, tôn giáo và các loại h́nh giải trí, nghệ
thuật
Cách
biểu hiện ḷng tôn trọng, nhớ ơn và biết ơn ông bà cha mẹ nhiều đời
nhiều kiếp qua việc thờ cúng của người Việt Nam thuộc loại h́nh văn hoá
tinh thần. Cách tôn kính, thờ cúng này không phải ở Việt Nam mới có, mà
từ thuở nhà Hạ (2205-1767 TCN), Thương / Ân (1766-1112 TCN), Chu (1111–221 TCN) bên Trung Hoa cũng đă có nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên rồi.
Các vua chúa thường đi tế Giao (cúng trời đất) ở một nơi được xem là
linh thiêng, hoặc cúng tổ tiên trong Thái Miếu.
Nền văn hoá Việt Nam
thời cổ và trung đại cũng vậy. Các vua chúa thường đi cúng tế nơi Thái
Miếu, nơi đền thờ các vị khai quốc công thần. C̣n người dân dă th́
thường thờ ông bà cha mẹ tại nhà và làm lễ cúng giỗ hàng
năm.
Văn hoá Việt Nam, dù trải bao thăng trầm lịch sử, nhưng đạo
lư:
“Sang đ̣ nhớ ơn người chèo chống, nằm vơng nhớ ơn người mắc dây”
vẫn
được khắc sâu trong tâm khảm người Việt, vẫn ấm áp trong tiếng hát hời
ru con muôn thuở:
“Nước chảy ra thương cha nhớ
mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ
cha”.